TRANG TIN từ LHSVN http://www.lhsvn.com.vn

Người Nga và người Việt Nam biết nhau từ khi nào?
14.11.2012

Thời Liên Xô người ta thường cho rằng mối quan hệ giữa Nga và Việt Nam đã nảy sinh sau cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 17, kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Nga vào năm 1923 và từ khi Liên Xô ủng hộ phong trào cách mạng Việt Nam. Có cảm tưởng rằng trước đó, Việt Nam là "terra incognita" đối với nước Nga.


Nhưng thực tế có đúng như vậy không? Hoàn toàn không phải như vậy, - nhà sử học Anatoly Sokolov khẳng định:

“Lần đầu tiên ở Nga người ta được biết về Việt Nam là vào năm 1783. Khi đó, xưởng in trường Đại học Matxcova đã phát hành bộ sách nhiều tập dịch từ tiếng Pháp mô tả các nước khác nhau. Một trong những tác giả là Samuel Baron, con trai của đại diện Công ty Đông Ấn Hà Lan tại Bắc Kỳ đã dành 65 trang để nói về khí hậu, tôn giáo, quân đội, hệ thống tài chính và các phong tục dân gian của Việt Nam. Tác giả đã nhận định rất chính xác: "Người dân ở đây yêu Tổ quốc mình hơn tất cả mọi xứ sở khác. Họ may mắn được trời phú cho trí nhớ tuyệt vời và sự thông minh sắc sảo. Người Việt Nam và người Trung Quốc luôn luôn là các dân tộc khác nhau." Ông đã viết về ngôn ngữ Việt Nam như sau: " Đối với người nước ngoài, không có ngoại ngữ nào khó học hơn là tiếng Việt Nam." Và hôm nay, sau 230 năm, nhận xét này vẫn rất đúng sự thật."

Nếu trong thế kỷ 18, người Nga chỉ biết đến một bài viết duy nhất nhưng rất chi tiết về Việt Nam, thì đến đầu thế kỷ 19 đã bắt đầu xuất hiện hàng chục thông tin về đất nước này, mặc dù Việt Nam khi đó còn nằm bên ngoài lợi ích địa chính trị của Đế chế Nga. Hai phần ba thế kỷ 19 chưa hề có người Nga nào đến Việt Nam, vì vậy trong giai đoạn này các ấn phẩm ở Nga viết về đất nước này chủ yếu được dịch từ báo chí nước ngoài, hầu hết là từ tiếng Pháp.

Chẳng hạn, năm 1821, trong "Tạp chí lịch sử, thống kê và địa lý" xuất bản tại Matxcova đã đăng bài “Thông tin mới nhất về Nam Kỳ.” Mặc dù đất nước này được đánh giá là rất xa xôi đối với người châu Âu cũng như Nhật Bản và Trung Quốc, bài viết đã nói về lịch sử quan hệ của Nam Kỳ với Pháp và các nước châu Âu khác.

Sáu năm sau, tạp chí «Người đưa tin Matxxcơva” đã đăng bản dịch bài của nhà khoa học Pháp Pyurfua viết về Nam Kỳ. Tác giả đã sống ở miền Nam Việt bảy năm và kể chuyện về cuộc sống đầy màu sắc và phong tục tập quán của người dân địa phương. Độc giả Nga cũng được đọc bản dịch tiểu luận về Việt Nam cuả nhà tự nhiên học Pháp Mugo và Tiến sĩ Morris, học giả Trung Quốc Tsai Minlan, bị dạt vào An Nam sau khi bị đắm tàu và đã sống một năm ở đó...

Chẳng bao lâu, báo chí Nga đã không còn hạn chế thông tin về Việt Nam bằng những bản dịch bài viết từ tiếng Pháp. Bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu của các tác giả trong nước. Tác giả một trong những bài viết đầu tiên trong số này, xuất bản năm 1846 tại Matxcova, đã ghi nhận rằng "người Nam Kỳ và Bắc Kỳ đều là đại diện của dân tộc An Nam" và khẳng định sự thống nhất của nhà nước Việt Nam. Cuốn sách "Những người láng giềng phía Nam của Trung Quốc" được xuất bản tại Matxcơva là công trình đầu tiên và rất thành công của Nga tóm tắt tất cả tài liệu trong và ngoài nước về Việt Nam tại thời điểm đó. Cuốn sách là một loại bách khoa toàn thư về Việt Nam, xét theo sự đa dạng chủ đề, cũng như về cấp độ khoa học của nội dung được đề cập.

Kể từ khi Pháp bắt đầu mở rộng hiện diện tại Việt Nam, sự quan tâm của người Nga đến đất nước này đã tăng lên đáng kể.

Khi nào và từ đâu người Việt biết về nước Nga?

Nhà sử học Matxcova Maksim Syunnerberg cho biết: “Điều này diễn ra cũng vào khoảng những năm ấy. "Người khám phá" nước Nga cho đồng bào mình là học giả Lê Quý Đôn. Trong một trước tác của ông, Lê Quý Đôn đã nhắc là có một quốc gia với tên gọi “Nga”. Tuy nhiên, tác gia chỉ dừng lại ở thông tin này. Bốn thập kỷ sau, mặc dù chưa hề đặt chân tới xứ sở xa xôi nhưng một linh mục Công giáo là Philip Bỉnh đã trình bày chi tiết hơn về đất nước này.”

Philip Bỉnh là linh mục Công giáo tại một giáo xứ Dòng Tên ở Việt Nam. Sau khi dòng đạo bị cấm, ông quyết định tìm cách bảo vệ các giáo xứ Dòng Tên với hơn 120 ngàn giáo dân người Việt. Để thực hiện mục đích này, năm 1796 linh mục đi châu Âu hy vọng gặp gỡ các nhân vật có ảnh hưởng trong giáo hội và giới thượng lưu. Ông đã được tiếp kiến quốc vương Bồ Đào Nha với vai trò phái viên Kitô hữu chính thức của vua An Nam.

Suốt ba mươi sáu năm cho đến khi ông qua đời, linh mục Philip Bỉnh đã sống ở Bồ Đào Nha. Ông làm công việc nghiên cứu các trước tác văn học, lịch sử và thần học, quan tâm đến vấn đề thương mại thế giới. Chẳng hạn, ông đã khuyến nghị Hoàng gia quan tâm tổ chức các đồn điền chè ở Brazil, khi ấy còn thuộc sở hữu của Bồ Đào Nha. Mặc dù bản thân ông không thể nào quen việc người Bồ Đào Nha "làm hỏng vị trà do thói quen bỏ thêm đường."

Các di thảo của linh mục Philip Bỉnh thời kỳ sống ở Bồ Đào Nha hiện được lưu trữ tại thư viện Vatican. Công trình chính của ông là "Sách ghi chép những việc khác nhau" xuất bản năm 1822. Giới sử học Pháp trước đây cũng như ngày nay thường lờ đi cuốn sách này. Lý do của họ là sự thiếu tôn trọng của tác giả, dưới quan điểm của người Pháp, khi ông đề cập tới Hoàng đế Napoleon Bonaparte, một nhân vật cùng thời.

Một số chỗ trong cuốn sách đã được linh mục Philip Bỉnh viết về Nga.

Sống ở Bồ Đào Nha, ông Bỉnh trở thành nhân chứng quân đội Napoleon chiếm đóng nước này năm 1807. Vì vậy, ông quan tâm theo dõi Cuộc chiến tranh vệ quốc 1812 của nhân dân Nga chống sự xâm lược của Napoleon, linh mục chân thành cảm thông và chia sẻ niềm vui chiến thắng của Nga.

Ông Philip Bỉnh viết: "Hoàng đế Pháp đã thân chinh dẫn quân vào Nga, mang theo mình các vị vua và hoàng tử họ mạc của ông, cùng những đội quân phương Tây. Nga hoàng không nghênh chiến mà hạ lệnh rút lui. Hoàng đế Pháp chiếm đóng thủ đô Nga và nhiều tỉnh lỵ. Nga giả vờ sợ hãi, không ra lệnh dàn trận vào mùa hè. Họ cố tình chờ đợi mùa đông, bởi những người đến từ phương Tây khó chống nổi giá rét khốc liệt ở nước Nga. Và đúng như dự đoán, lúc ấy Nga mới mở cuộc tấn công ồ ạt. Binh sĩ phương Tây chân tay lạnh cứng không thể cầm gươm, họ thua thảm hại, quân đội tan nát và nhiều tướng lĩnh thiệt mạng."

Linh mục Philip Bỉnh còn đề cập tới nước Nga trong phần ông mô tả đảo St. Helena, nơi ông đã dừng chân năm 1796 trên đường đi châu Âu.

"Hòn đảo này trở thành chốn lưu đày của Napoleon, người từng là hoàng đế Pháp và xâm lược cả châu Âu. Năm 1814, Sa hoàng Nga và các vua đã bắt giữ ông ta. Nhưng Bonaparte trở lại ngai vàng, thế là Sa hoàng Nga một lần nữa thực hiện cuộc viễn chinh tới Pháp, bắt giam Bonaparte và đày ông sống lưu vong tại St. Helena, nơi mà tôi đã có dịp sống 20 ngày và cũng là nơi Napoleon qua đời năm 1821."

Trong phần cuốn sách ghi lại những suy ngẫm của linh mục Philip Bỉnh về xung đột quân sự và mưu đồ chính trị ở châu Âu thời Napoleon, ông đã đối chiếu sự tương phản giữa bầu không khí căng thẳng ở châu Âu và sự tồn tại hòa bình khi ấy của Nga và Trung Quốc.

Vì vậy, chúng ta có thể gọi linh mục Philip Bỉnh là chuyên gia Việt Nam đầu tiên về Nga.



URL của bản tin này::http://www.lhsvn.com.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2102

© TRANG TIN từ LHSVN contact: nkm1965@gmail.com